Saturday, March 8, 2014

Năm bài thơ của Jaroslav Seifert

Ngày 8-3, đọc lại tập thơ Maminka (Mẹ) của Jaroslav Seifert (23-9-1901_10-1-1986), nhà thơ Cộng hòa Séc đoạt giải Nobel văn chương năm 1984, thấy xúc động trước hình ảnh người mẹ nhà thơ, một phụ nữ Séc giản dị, giàu tình cảm. Bà là nhân vật trung tâm của gia đình. Khi bà vui, bầu không khí trong nhà trở nên tươi tắn, rạng rỡ, còn khi bà buồn thì bầu không khí ấy trở nên u ám, buồn tẻ. Có lẽ, hồi nửa đầu thế kỷ 20, cuộc sống của đa số người Séc, trong đó có cả cha mẹ Jaroslav Seifert, cũng nghèo túng chẳng khác gì người Việt Nam cùng thời, và những niềm vui, nỗi buồn của họ cũng giản dị, khiêm nhường như của người Việt Nam vậy. Jaroslav Seifert là nhà thơ viết nhiều về phụ nữ, đặc biệt là về người mẹ của mình. Maminka là hồi ức của nhà thơ về quãng thời gian ông sống với cha mẹ, từ khi ông còn là một cậu bé con cho tới khi đã trưởng thành. Với người mẹ nhà thơ, dù Jaroslav Seifert còn là trẻ con hay đã trở thành một nhà thơ nổi tiếng, lúc nào ông cũng chỉ là một người con cần được dạy dỗ, che chở. Trong số các bài thơ dưới đây, bài "Chiếc gương của mẹ" và bài "Bên cửa sổ" được rút từ tập Maminka. Cả 5 bài này đều đã được đăng trên tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.




Jaroslav Seifert


Chiếc gương của mẹ

Chiếc gương khung mạ vàng của mẹ
Theo thời gian lớp bạc mờ dần
Gần nửa đời mẹ soi gương chải tóc
Những ngày đầu gương hãy còn trong

Chiếc gương treo bên cửa sổ, trên chiếc đinh
nó nhìn mẹ, nhìn con
mà sao không cười nhỉ?
Hồi ấy mẹ trẻ trung vui vẻ
gương mặt người chưa có nếp nhăn
mà nếu có chắc là rất ít

Bên chiếc cối xay mẹ hát
mẹ nhảy cùng cha điệu valse hạnh phúc
Mỗi lần nhớ về thời tuổi trẻ đã qua
mắt người ánh lên những tia lấp lánh

Những sợi tóc lấy ra từ chiếc lược
mẹ cuộn tròn nhằm phía cửa ném đi
Tôi nhìn thấy những nếp nhăn nho nhỏ
Trên thái dương quanh khoé mắt người

 

Rồi khung gương theo tháng năm biến dạng
lớp thuỷ tinh ngày một rạn dần
Khi chiếc gương vỡ thành hai nửa

mẹ vẫn soi khi chải tóc mình

Thời gian trôi, tóc mẹ dần nhuốm bạc
mẹ chẳng còn nhìn ngắm bản thân
Sống một mình đã quen, khi có người gõ cửa
mẹ đi ra cùng chiếc tạp dề đen

Tôi bước vào nhà. Giờ tôi không dám
không còn ai nơi ngưỡng cửa nắm tay tôi
Chiếc gương vẫn treo trên tường mà tôi không thấy
bởi lệ trào nhoè ướt mắt tôi.

Lương Duyên Tâm dịch

 

Jaroslav Seifert

Tĩnh vật của mẹ  

Chiếc đê khâu, mấy cái kim
Vài cuộn chỉ, cặp kính cũ
Tôi đã dùng chúng để đo thời gian
Mà thời gian ngày một lụi tàn

Thuở ấy mẹ thường thì thầm âu yếm
Con trai nhỏ yêu quý của mẹ
Mẹ sợ có ngày
Lũ trẻ hư ném đá sứt đầu con mất

Không, mẹ ơi, đầu con giờ vẫn nguyên lành
Cả đầu gối con cũng không có sẹo

Như mọi khi tôi lại tìm đến bên mẹ và thổn thức
Nước mắt ứa ra bàn tay mẹ dịu dàng
Như máu rỉ từ vết thương cũ
Thấm ra lớp băng mềm

Bao nhiêu chiếc cúc mẹ đơm cho tôi
Bao nhiêu đường kim mẹ từng khâu vá
Bao nhiêu cái hôn mẹ đã cưng chiều
Vậy mà tôi chưa đền đáp mẹ

Xin vĩnh biệt quãng thời gian đã mất
Những tháng ngày ngỡ đã lãng quên
Thời gian qua đi không bao giờ trở lại
Mà sao tôi vẫn cứ kiếm tìm.

Lương Duyên Tâm dịch
 


Jaroslav Seifert

 
Bên cửa sổ

Mùa xuân đến, nắng xuân rực rỡ
cây nở hoa dưới ánh mặt trời

Mẹ lặng lẽ bên ô cửa sổ

ngoảnh mặt che dòng lệ tuôn rơi.

 

- Mẹ ơi mẹ, vì sao mẹ khóc?

Hãy nói con hay, mẹ thương tiếc điều chi?

- Mẹ sẽ nói cho con hay, mẹ sẽ

nói cho con khi cây ngừng nở hoa.

 

Rồi tuyết rơi làm mờ cửa kính

Mẹ khóc thầm trong ánh sáng nhạt nhòa

- Mẹ ơi mẹ, vì sao mẹ khóc?

Hay mẹ đang thương tiếc điều chi?

- Mẹ sẽ nói cho con hay, mẹ sẽ

Nói cho con khi tuyết ngừng rơi.

Lương Duyên Tâm dịch
 

Jaroslav Seifert

Bài ca  (Chim đưa thư)
 
Vẫy chiếc khăn trắng
Người chia ly

Mỗi ngày lại có một điều gì đó kết thúc

Một điều gì đó tuyệt vời không còn.

 

Con chim bồ câu đưa thư đập cánh vào không khí

Nó trở về nhà

Với niềm hy vọng và cả nỗi tuyệt vọng.

 

Hãy lau nước mắt đi em

Hãy cười bằng đôi mắt ứa lệ

Mỗi ngày lại có một điều gì đó bắt đầu

Một điều gì đó tuyệt vời khởi động.


Lương Duyên Tâm dịch

 

 Jaroslav Seifert

Sao chổi Halley

Tôi chẳng nhìn thấy gì lúc ấy

Chỉ thấy những cái lưng và những cái đầu ngọ nguậy.

Phố xá đông ngẹt người.

Tôi cố bám vào bức tường như kẻ nghiện rượu cố nhấp ngụm cồn

Đúng lúc ấy một bàn tay phụ nữ nắm tay tôi và tôi tiến lên vài bước

Trước mắt tôi mở ra một khoảng không gian sâu hút

Mà người ta gọi là bầu trời.

 

Những ngọn tháp nhà thờ hiện ra ở đường chân trời như được cắt bằng giấy thiếc

Phía trên là những vì sao đã tắt.

Kia kìa! Cháu có nhìn thấy không?
Có, cháu có thấy!
 
Trong đám tinh vân như quầng lửa nhấp nháy
Có một vì sao biến đi.
 
Đó là một buổi tối mùa xuân trung tuần tháng năm
Không gian ấm áp tỏa hương 
Tôi hít bầu không khí sực nức mùi thơm cùng những hạt bụi sao.
 
Tôi nhớ có lần, vào mùa hè, khi còn ở quê hương
Tôi đã  hít trộm mùi thơm những bông hoa huệ cao cao người ta bán ngoài chợ
Có ai đó cười tôi
Vì trên mặt tôi dính đầy phấn hoa vàng. 
 
 
Lương Duyên Tâm dịch từ nguyên bản tiếng Séc

Chú thích:  Sao chổi Halley là một trong số những sao chổi có chu kỳ ngắn nhất và có thể quan sát được từ trái đất bằng mắt thường. Cứ khoảng từ 75 đến 76 năm người ta lại thấy nó một lần. Lần xuất hiện gần đây nhất của sao chổi Halley là vào ngày 9-2-1986. Nhà thơ Jaroslav Seiffert có lẽ đã chứng kiến lần xuất hiện của sao chổi Halley ở chu kỳ trước đó, cụ thể là vào ngày 20-4-1910 (chứ không phải “trung tuần tháng 5” như tác giả nhớ nhầm). Hồi đó nhà thơ mới 9 tuổi.

Saturday, February 15, 2014

Hoa cải trên sân thượng







 

 

Thật là ngao ngán khi lên sân thượng thăm vườn rau thấy những cây cải mới hôm nào tươi non là thế mà hôm nay đã đồng loạt trổ hoa vàng. Thảo nào trong ca dao người ta ví cải ngồng như dưa khú, chồng chê. (Ai làm cho cải tôi ngồng, cho dưa tôi khú cho chồng tôi chê). Thế nhưng, ngắm mảnh vườn, tôi lại thấy, mình chẳng có gì phải bi quan cả. Cải ngồng tuy không ăn được, nhưng nó tạo ra một vườn hoa đẹp. Những bông hoa cải vàng mỏng manh, tinh khiết, tỏa mùi thơm cay nồng, gợi nhớ mùi hương đồng nội, khiến những người vốn sinh ra và lớn lên ở nông thôn như tôi đột nhiên nhớ về những năm tháng tuổi thơ xa lắc. Hồi đó, có lẽ cũng vào một buổi sáng cuối đông nào đó, tôi đã từng bất ngờ khi đột ngột bắt gặp màu vàng rực của những bông hoa cải trong mảnh vườn nhỏ trước sân nhà mình. Thoạt đầu, đột khởi mấy cái nụ non xanh bé tí, vài hôm sau những cái nụ li ti ấy nở bung thành những bông hoa vàng. Vài ba ngày kế tiếp, cả vườn cải đã vàng ươm một màu và  mùi hương hoa cải cay nồng tràn ngập không gian. Hoa cải không sang trọng, quý phái, nó giản dị, hiền hậu, gần gũi với những loài hoa cỏ. Bởi thế người ta không dùng hoa cải để tặng nhau, cũng không mấy khi dùng nó để trang trí nhà cửa. Vậy mà, vẫn có một số người, một phần vì yêu màu vàng ám ảnh của nó, một phần vì thấy nó gần gũi với mình, thường ngắt những chùm hoa cải, cắm vào lọ hoa hay cốc nước thủy tinh đặt trên bàn làm việc để cảm nhận mùi hương đặc biệt của loài hoa dân dã. Liên quan đến cây cải, có một câu ca dao rất hay, dù ít ai hiểu được ý nghĩa của nó: “Gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu đời đắng cay…”

 

Lương Duyên Tâm

Thursday, February 13, 2014

Lời bình của Ngô Thế Oanh về tập thơ “Thơ giữa hai mùa” của Lương Duyên Tâm


Lời bình của Ngô Thế Oanh về tập thơ “Thơ giữa hai mùa”

 

 

Tôi nhớ, đó là vào khoảng cuối những năm tám mươi…

Tình cờ, do công việc, cần trao đổi lại về bản dịch một vở kịch chuẩn bị đưa in, tôi được quen biết Lương Duyên Tâm. Anh học ở Praha về, là dịch giả của một số tác phẩm văn học Tiệp Khắc.

Từ khá lâu, sống ở một tỉnh ven biển miền Trung, rải rác khi này, khi khác tôi đã được đọc những bài thơ, những bản dịch ký tên Lương Duyên Tâm. Một giọng thơ trữ tình khiêm nhường. Mỗi lần đọc thơ của một ai đó, tôi thường mường tượng, hình dung tác giả trong cuộc đời. May mắn là ít khi tôi nhầm.

Em ra đi mùa hạ cũng theo đi

Mà hàng phượng bên thềm còn đỏ mãi

Em vẫn còn xa. Mùa hè quay trở lại

Hoa rực hồng hơn cả buổi chia ly

Làm sao biết được chính xác là khi “Em vẫn còn xa. Mùa hè quay trở lại”… mà “Hoa rực hồng hơn cả buổi chia ly”.  Nhưng có lẽ tất cả những ai đã yêu, đang yêu đều tin vào những điều tác giả cảm nhận và bày tỏ.Vì nào có ai trong tình yêu, trong nhớ nhung xa cách mà lại tỉnh táo đến mức còn đi tìm kiếm, bắt bẻ những logic hợp lý thông thường. Lương Duyên Tâm tinh tế diễn đạt cái rung động rất sâu có lẽ chỉ thoáng lên khoảnh khắc trong tâm hồn. Và tâm hồn anh chợt gần gũi với tâm hồn ta. Ta thường yêu mến những ai chỉ bộc lộ với ta những gì họ vốn có.

Ở một trang khác của tác giả Thơ giữa hai mùa:

Thật như đất nên tôi thô nháp

Mịn như tro em quá dịu dàng

Không hiểu sao tôi đã dừng lại khá lâu ở hai dòng thơ này. Mịn như tro…Một so sánh ít khi gặp. Nhưng ngẫm nghĩ, ta thấy người viết có lý. Người viết muốn gửi gắm gì trong hai dòng thơ này? Anh muốn nói đến người đàn bà anh yêu, điều này ta hiểu rồi. Nhưng hình như anh còn muốn nói rộng hơn nữa. Có thể là về thơ ca. Có thể là về dòng đời. Có thể là về tâm hồn con người. Hình như tôi đã đọc thấy ở đâu đó rằng cái bền vững chính là tro. Vâng, tro là những gì còn lại sau rực rỡ ngọn lửa.

Vừa là khiêm nhường nhưng cũng vừa là một mơ ước khi Lương Duyên Tâm tìm đến sự chân thành của đất. Anh viết rằng đất thô nháp. Có lẽ là một cách tế nhị khi anh tự bạch.Và nét thô nháp vẫn là nét đáng yêu. Song không chỉ đơn giản như vậy. Thơ anh, và có lẽ cả đời anh nữa, giản dị. Nhưng đó là nét giản dị sau rất nhiều suy ngẫm, tìm kiếm. Trong thơ của người viết này ta tìm thấy không ít những trăn trở, cả trong cấu trúc lẫn trong nhịp điệu, ngôn ngữ để đi vào thơ hiện đại. Ta còn bắt gặp những khoảng rộng của không gian cũng như thời gian. Bên cạnh những dòng thơ trữ tình dung dị, gần gũi là những dòng thơ mang theo tư duy không dễ nhận ran gay, không dễ đọc. Đất của nhà thơ này đôi khi hàm ẩn không ít những rung cảm nghiêng về triết luận. Đó có lẽ cũng là một trong những nét mà thơ hiện đại đang tìm kiếm.

Viết ra những bài thơ. Trước hết là để hóa giải cho chính mình. Ghi lại những khoảnh khắc cho đời mình. Rồi cuộc sống với bao bề bộn lo toan phức tạp khiến người viết đôi khi gần như quên đi, đúng hơn là cố tình quên đi, không muốn nhớ lại…Tác giả tập thơ này là một người như thế. Có đây cũng là một phẩm chất của những người thật lòng yêu thơ?

Thơ giữa hai mùa được viết rải rác trong nhiều năm. Và bây giờ mới được tập hợp lại. Như một kỷ niệm. Một lượm hoa của ký ức. Những bài thơ được viết những năm thanh xuân với bao say đắm. Và những bài thơ được viết khi chớm bước vào mùa thu, mùa của trái chin, những khoảng trong lặng đượm buồn. Điều an ủi là, với tất cả chân thành của người viết, người đọc hôm nay hy vọng vẫn còn tìm thấy những đồng cảm. Những rung động thực của hồn ta bao giờ cũng tìm thấy đường đến với lòng người…

 

Hà Nội, mùa thu 1999

Ngô Thế Oanh

Năm bài thơ tình thời tuổi trẻ (rút từ tập “Thơ giữa hai mùa” của Lương Duyên Tâm)


Năm bài thơ tình thời tuổi trẻ


 

Nhân mùa Valentine, tôi post lại 5 bài thơ tình thời đầu xanh tuổi trẻ, rút từ tập thơ “Thơ giữa hai mùa”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1999. Trong số 5  bài thơ trên, bài “Rừng ôn đới” đã đăng trên báo Văn nghệ, bài “Hoa đỏ” đã đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội, và bài “Có một thời như thế” đã đăng trên báo Tuổi trẻ chủ nhật và Hà Nội mới chủ nhật. Nhân tiện, mời các bạn xem lời bình của Ngô Thế Oanh về tập thơ này.

 

 

Có một thời như thế

 

Có một thời cây lá ngỡ xanh hơn

Thuở ấy mắt huyền như biết nói

Tóc mềm xõa trong chiều gió nổi

Đến bây giờ còn ngợp cả hồn anh

 

Không có đắng cay chỉ có ngọt lành

Bởi có em anh chẳng cần của cải

Bởi có em anh ngỡ mình trẻ mãi

Mọi vui buồn cũng chỉ từ em

 

Ngỡ như là trong gió có hương thơm

Trong tiếng lá có những lời em nói

Anh bị thôi miên trong làn hương ấy

Anh đắm mình trong tiếng lá ru đêm

 

Thuở ấy gia tài anh chỉ có em

Tay trắng giữa đời vẫn thấy mình giàu có

Có một thời, có một thời như thế

Có một thời em đã yêu anh.

 

Lương Duyên Tâm

 

 

Hoa đỏ

 

Thế là em đi xa mãi mãi

Cả tình yêu cũng đã ra đi

Trưa mùa hạ trời xanh mây trắng

Hoa nhói lòng sắc đỏ chia ly

 

Thật như đất nên tôi thô nháp

Mịn như tro em quá dịu dàng

Xin giữ lại một làn hương cũ

Và cái nhìn thăm thẳm như đêm

 

Giờ hoa đỏ đã thành kỷ niệm

Lối đi xưa cỏ mọc xanh rồi

Trời kia vẫn xanh mây vẫn trắng

Nước dưới chân cầu mãi chảy xuôi

 

Chờ đợi mãi dưới hàng cây hoa đỏ

Khi xuân qua người chẳng quay về

Đành tha thẩn đếm từng chiếc lá

Chờ nỗi buồn chầm chậm qua đi.

 

Lương Duyên Tâm

 

 

Giã từ

 

Con tàu nổi hồi còi tạm biệt

Xin giã từ thành phố mến thương

 

Đâu rồi những hàng me xanh non

Chiều lộng gió thênh thang đại lộ?

Đâu rồi khoảng trời xanh mùa hạ

Hoa phượng cháy lên như lửa ngang trời

 

Biết đến bao giờ tôi lại về thành phố

Lá me bay rối cả lòng người

Chiều tím lại trong hoàng hôn đầy gió

Cơn giá nào mát đẫm hồn tôi?

 

Cơn gió nào đưa tôi về đất ấy

Áo lính xanh bỡ ngỡ phố phường

Em đứng đợi dưới vòm hoa giấy

Mắt như khoảng trời trong vắt sau mưa

 

Giờ chân trời lại rực hồng hoa đỏ

Phố phường quen thấm thoắt mấy năm rồi

Giã từ em, giã từ phố xá

Giã từ thời áo lính của tôi

 

Như chỉ có mình em trên ga tầu vắng lặng

Đôi mắt như hai giọt mưa chiều đọng trên lá me non.

 

Lương Duyên Tâm

 

 

Đi trong rừng ôn đới

 

Vừa ra ngoại ô đã thấy núi thấy rừng

Những cánh rừng hút theo tầm mắt

Chợt cúi xuống mắt tôi gặp đất

Màu đất hiền lành như đất quê hương

 

Cũng màu nâu thân quen

Mà những khoảng rừng nơi đây lung linh ánh sáng

Những cây bạch dương xôn xao trong nắng

Lá non xanh như biết thốt lên lời

Những cây thông im lặng trên đồi

Xanh thăm thẳm suốt mùa băng giá

Những cây phong tán lá mềm óng ả

Lá phong xòe như những bàn tay

Bông hoa cỏ thơ ngây

Có sắc tím nao lòng như cái nhìn thiết tha của người con gái

Mùi hương hoa dại

Cứ đuổi tìm suốt cuộc đời tôi

 

Đi trong rừng ôn đới chiều nay

Tôi bỗng nhớ những cánh rừng nhiệt đới

Có khoảng trời xanh trên tán cây vời vợi

Có những lùm cây chen chúc ven đường

Những cánh rừng quê hương

Xao xác khi trời chuyển gió

Cánh rừng nào dưới bóng cây em ngủ

Hoa nắng rơi trên võng bạt trưa hè

Không gian xanh tiếng ve

Hoàng hôn thoảng mùi gỗ thơm rạo rực

Em đốt lên trong đêm hội ven rừng

 

Để đến hôm nay thao thức mãi trong lòng

Những cánh rừng tuổi thanh xuân năm ấy

Lòng cứ ước một ngày trở lại

Ngồi cùng em bên con suối nước đầy

Nắng chiều như mật rót lòng tay

Hoa lau trắng bạt ngàn thung lũng

Con đường đất ngủ im lìm trong nắng

Áo em xanh lẫn với lá rừng

 

Trên vạt cỏ non xanh

Nơi cửa rừng bạn bè họp mặt

Em ngồi bên tôi hồn nhiên thân thiết

Bông hoa cúc rừng em ngậm trên môi.

 

Lương Duyên Tâm

 

 

 

Tầm tã mưa chiều

 

Mưa tầm tã suốt buổi chiều năm ấy

Anh đứng lên ngồi xuống bao lần

Tiếng còi hú sân ga tàu đỗ

Trong chuyến tàu xuyên mưa gió có em?

 

Cơn áp thấp tràn về bất chợt

Phố thành sông trôi giữa hai bờ

Anh lội nước dầm mưa đi đón

Ước thấy em trên ga vắng đang chờ

 

Mưa trắng xóa bụi bay mờ mái ngói

Nghe mưa rơi thắc thỏm trăm chiều

Cây tươi tốt trong mưa có biết

Phải đợi chờ khổ sở bao nhiêu

 

Trời chiều nay lại đổ mưa tầm tã

Nhưng anh còn biết đợi ai đây

Ra khổ nhất là không người để đợi

Mưa có dầm dề cũng phí công thôi.

 

Lương Duyên Tâm

 

 

Saturday, September 14, 2013

Cuộc gặp mặt sau 45 năm


Cuộc gặp mặt sau 45 năm

Trưa 14-9-2013, tôi và bạn bè có mặt tại tại Nhà ăn 1-5, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, để dự  cuộc gặp mặt các cựu sinh viên và nghiên cứu sinh đã từng sang Tiệp khắc năm 1968. Đã 45 năm trôi qua kể từ mùa thu năm ấy, khi chúng tôi bước lên con tàu liên vận với hành trình Hà Nội - Ostrava. Từ đó đến nay đã có bao nhiêu sự kiện xảy ra đối với nước Việt Nam và nước Tiệp Khắc cũ cũng như đối với mỗi người. Sự kiện này chồng lên sự kiện khác. Vậy mà chúng tôi vẫn nhớ rõ chuyến đi này bởi nó là một trong những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời chúng tôi.

 
Những người khởi xướng cuộc gặp mặt là 3 cựu nghiên cứu sinh, anh Tùng, anh Thưởng và anh Lương. Anh Tùng nói, những người sang Tiệp Khắc năm 1968 giờ đây đều đã trên 60 tuổi, nghĩa là đều đã già, mà người già thường sống bằng kỷ niệm, vì vậy một cuộc gặp mặt như thế này là điều rất có ý nghĩa. Anh muốn mọi người gặp nhau thường xuyên hơn. Đáp lời anh Tùng, hầu như tất cả mọi người đều đồng ý rằng mỗi năm nên gặp nhau một lần. Thật thú vị khi gặp lại những gương mặt mà ta đã từng quen biết thời thanh xuân. Tuy mọi người ai cũng già đi nhưng những nét đặc trưng tạo nên bản sắc từng cá thể hầu như không mấy thay đổi. Tiếc là số người biết về cuộc gặp mặt quá ít. Ai cũng hy vọng, những cuộc gặp mặt sau này sẽ đông đủ hơn.

 
Trong chuyến đi Tiệp Khắc năm 1968 ấy chúng tôi đã gặp nhiều sự kiện đặc biệt. Ngay khi vào đất Trung Quốc không bao lâu chúng tôi đã gặp trắc trở. Nếu tôi nhớ không nhầm thì, vừa qua thành phố Bằng Tường một đoạn, chúng tôi được tin đường sắt liên vận ở gần Nam Ninh bị phá hoại, tàu không thể đi tiếp được nữa. Lúc đó tại Trung Quốc đang diễn ra Cách mạng văn hóa, có thể người dân vùng này đã phá đường sắt để chống lại cuộc cách mạng này. Rốt cuộc, người ta quyết định chở chúng tôi bằng xe buýt tới thành phố cảng Trạm Giang, và từ đó lên tàu thủy ra biển, rồi ngược sông Châu Giang tới Quảng Châu để đi tiếp bằng tàu hỏa. Đoạn đường vòng này làm chúng tôi mất thêm vài ngày đi đường nhưng lại khiến chúng tôi có dịp chứng kiến tận mắt cuộc Cách mạng văn hóa ở Trung quốc với các màn đấu tố và tra tấn người của đám Hồng vệ binh. Đến Ostrava, chúng tôi lại trở thành nhân chứng của một sự kiện lớn nữa, đó là cuộc xâm nhập của quân đội khối Varsava vào Tiệp Khắc. Vừa mới chân ướt chân ráo đến Ostrava hôm trước, hôm sau chúng tôi đã thấy xe tăng Nga đậu đầy vườn hoa và quảng trường. Những sự kiện long trời lở đất ấy giờ đây đã trở thành một phần của lịch sử, đồng thời để lại những ký ức không phai mờ trong cuộc đời chúng tôi.

 
Tại cuộc gặp mặt, tôi may mắn được gặp lại nhiều bạn bè, trong đó có cả những người đã  từng cư trú cùng mình nhiều năm tại ký túc xá Větrník ở khu Petřiny, Praha 6. Kỷ niệm về những năm tháng sống tại ký túc xá này đã được tôi nhắc đến trong bài “40 năm sau gặp lại” đăng trên blog của mình. Các bạn Hiền, Đức, Lộc, Thắng, Văn đều khỏe mạnh, thành đạt và đều đã có con cháu đề huề. Tôi có cảm giác, các bạn ấy đều còn rất trẻ. Thời gian dường như chỉ có thể khiến khuôn mặt các bạn ấy có thêm vài nếp nhăn chứ nó đã không thể lấy đi tính năng động trẻ trung của họ. Chỉ tiếc một điều là “những ngày xưa thân ái” đã qua rồi và nó vĩnh viễn không bao giờ quay trở lại.

 

Sau đây là một số bức ảnh về cuộc gặp mặt.


Monday, September 9, 2013

Thơ vẫn cần cho cuộc đời này.(Xem bộ phim Thơ của đạo diễn Hàn Quốc Lee Changdong)


Thơ vẫn cần cho cuộc đời này
(Xem bộ phim Thơ của đạo diễn Hàn Quốc Lee Changdong)

 
Mới đây, tình cờ, tôi được xem trên truyền hình bộ phim Thơ (Tiếng Hàn là , tiếng Anh là Poetry)  của đạo diễn Lee Changdong, người được coi là một trong số những đạo diễn xuất sắc nhất châu Á hiện nay. Đúng là danh bất hư truyền. Chỉ qua bộ phim Thơ và bộ phim Tia nắng bí mật, người ta có thể xếp Lee Changdong vào nhóm đạo diễn tài năng xuất chúng, ngang hàng với các nhà làm phim bậc thầy của châu lục như Akira Kurosawa, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca … Bộ phim Thơ là một câu chuyện buồn, nó có thể khiến những người đa cảm rơi nước mắt. Xem phim mới thấy, thì ra thơ, hay đúng ra là những tâm hồn thơ, vẫn cần cho cuộc đời này, cho dù, như lời một nhân vật trong phim nói, “ngày nay thơ đang hấp hối”.

Chuyện phim khá đơn giản, nhưng chứa đựng nhiều tình tiết bất ngờ. Nhân vật chính, bà Mija (do nữ diễn viên Yoon Jeong-hee đóng), là một phụ nữ 67 tuổi, sống cùng đứa cháu trai 14 tuổi, trong một căn hộ nhỏ bé và nghèo nàn tại một khu phố bình dị. Con gái bà, một phụ nữ trẻ đơn thân, làm việc tại một thành phố cách đó vài trăm cây số. Để có thêm thu nhập, bà Mija phải làm thêm việc tắm rửa và phục dịch cho một ông già bị bệnh bại liệt. Phim mở đầu với khung cảnh êm đềm của vùng ngoại ô, bên bờ một con sông. Trong khi cùng mấy đứa bạn đồng trang lứa chơi đùa trên đám đất bên bờ sông thì một đứa con trai tình cờ nhìn thấy xác một cô gái trong bộ đồng phục nữ sinh trôi trên sông. Cô gái ấy chính là chị ruột của cậu bé. Cái chết của cô nữ sinh  trong một xã hội tưởng như hoàn toàn bình yên ấy đã trở thành nỗi đau không chỉ giày vò lương tâm bà Mija mà còn đè nặng lên trái tim khán giả.

Trong phim, bà Mija, tuy đã gần 70 nhưng vẫn được người ta khen là một phụ nữ đẹp. Bà là một người đỏm dáng, thường mặc những bộ váy áo thêu thùa hoa lá và đi lại khoan thai như một quý bà. Mặc dù cuộc sống đối với bà chẳng dễ dàng gì nhưng bà vẫn tỏ ra thanh thản, yêu đời. Giữa lúc đang sống trong hoàn cảnh tuổi già cô đơn, đương đầu với nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, một căn bệnh thoái hóa não, gây ra chứng lú lẫn và sa sút trí tuệ ở người cao tuổi, với biểu hiện quên dần các từ ngữ cơ bản, bà nảy ra ý định làm thơ. Và bà đã ghi danh vào học lớp học làm thơ tại một trung tâm giáo dục cộng đồng, do một nhà thơ giảng dạy. Thế nhưng đúng lúc bà bắt đầu say mê thơ thì tai họa giáng xuống: Bà được tin đứa cháu ngoại, một cậu bé tuổi vị thành niên tính tình lười biếng, lỳ lợm  và vô trách nhiệm, đã cùng đám bạn học của nó gây ra một tội ác khủng khiếp. Nó cùng 5 đứa bạn khác đã liên tục cưỡng hiếp một nữ sinh cùng trường, cô bé Agnes, suốt 6 tháng tại một phòng thí nghiệm, khiến nạn nhân phải tự vẫn. Người nhà nạn nhân biết được nguyên nhân con gái họ quyên sinh sau khi đọc cuốn nhật ký mà cô gái để lại và họ định tố cáo những kẻ đã gây tội ác. Để ngăn không cho câu chuyện vỡ lở, phụ huynh của 5 đứa trẻ mời bà Mija dự cuộc họp để bàn về việc bồi thường cho mẹ cô gái xấu số 30 triệu won. Nghĩa là, chia đều ra, mỗi phụ huynh phải nộp 5 triệu won(tương đương 100 triệu đồng Việt Nam). Đây là số tiền quá lớn đối với bà Mija. Các phụ huynh khác đề nghị bà Mija gọi điện cho mẹ cậu bé, để cô lo đóng góp số tiền này, nhưng bà không làm điều đó, có thể vì bà thương con gái, hoặc bà biết con gái bà không thể kiếm được số tiền lớn như vậy.

Mija vốn là một phụ nữ mơ mộng. Sở dĩ ở tuổi 67 bà bỗng nảy ra ý định làm thơ là vì hồi còn nhỏ một cô giáo nói với bà là bà có tâm hồn của một thi sĩ. Bất chấp việc phải đương đầu với cú sốc khủng khiếp và sức ép phải kiếm cho ra số tiền lớn để bồi thường cho gia đình nạn nhân, bà vẫn tiếp tục theo học lớp làm thơ. Không chỉ có vậy, bà còn nung nấu quyết tâm làm cho được một bài thơ trước khi lớp học kết thúc. Để thực hiện điều đó, bà bắt đầu chú ý quan sát kỹ lưỡng thế giới xung quanh, từ quả táo mà bà sắp ăn cho tới cái cây trên hè phố gần nhà, mỗi khi nảy ra ý thơ nào hay bà đều ghi vào một cuốn sổ nhỏ. Nhờ chăm chú quan sát, bà bỗng khám phá ra rằng, thế giới xung quanh thật đẹp. Thế là, trong khi cha mẹ năm đứa trẻ kia tìm mọi cách giấu giếm lỗi lầm của con mình, để tội ác mà chúng gây ra được giấu kín, thì bà Mija vẫn chỉ chú tâm vào việc làm thơ, như thể bà đã bị thi ca ám ảnh.

Không ai ngờ một xã hội bình yên lại có thể sinh ra những đứa trẻ vô cảm, độc ác và vô trách nhiệm đến như vậy. Phải chăng đó là vì người ta đang sống trong một xã hội giả dối và quá thực dụng, khiến con người không còn để ý đến vẻ đẹp của thiên nhiên và những điều tốt đẹp khác. Trong cái thế giới vô cảm đó, dường như chỉ có bà Mija và một số người mơ mộng như bà là vẫn cố tìm kiếm những vẻ đẹp của cuộc sống. Cho dù rất đau khổ bởi sự vô tâm, không hề biết ân hận của đứa cháu, bà Mija vẫn có đủ sự kiên nhẫn để  hoàn thành bài thơ trước khi khóa học kết thúc. Thông qua việc làm thơ, bà Mija đã tìm ra ý nghĩa của cuộc đời.

Phim Thơ có nhiều tình tiết bất ngờ. Khán giả ngạc nhiên khi thấy một bà già đang có nguy cơ lâm vào tình trạng lú lẫn bỗng đăng ký vào lớp học làm thơ. Cảnh một ông già bị liệt không thể tự tắm rửa cho mình được, có lẽ do hậu quả của cú đột quỵ nào đó, vẫn ao ước được người phụ nữ đứng tuổi thỏa mãn tình dục có thể khiến khán giả sửng sốt.  Người ta cũng có thể đặt câu hỏi, liệu một phụ nữ đoan trang đã 67 tuổi trong hoàn cảnh bức bách về tài chính có thể hy sinh đức hạnh để giải quyết bế tắc hay không?  Trong bộ phim này, đạo diễn dường như chỉ muốn đóng vai người kể chuyện chứ không muốn làm người rao giảng đạo đức.

Rốt cuộc thì bà Mija vẫn kịp làm được bài thơ khi lớp học kết thúc. Trước đó, mặc dù đã lo đủ tiền bồi thường cho mẹ cô gái xấu số nhưng bà vẫn quyết định nói cho viên cảnh sát, một người bạn cùng học làm thơ với mình, về tội ác của đứa cháu và đám bạn của nó. Đối với những người trung thực như bà thì đây là quyết định tất yếu. Để cho xã hội tử tế và bình yên, người ta không thể dùng tiền để che đậy tội ác. Những kẻ gây tội ác cần phải bị trừng phạt.Trước khi đứa cháu bị bắt, bà Mija đãi nó món ăn mà nó thích nhất, giục nó tắm rửa, cắt móng chân móng tay, sau đó gọi con gái về.

Phim kết thúc bằng cảnh thầy giáo dạy làm thơ đọc bài thơ của bà Mija nhan đề “ Bài ca của Agnes” trong buổi học cuối cùng. Trong khi đó người ta không biết bà Mija đang ở đâu và số phận của bà ra sao. Dựa theo những hình ảnh trong phim, khán giả có thể đoán, bà Mija đang đứng trên một cây cầu và từ đó nhìn xuống dòng sông chảy xiết, nơi cô nữ sinh xấu số Agnes đã quyên sinh. Nơi ấy  có dòng nước trong xanh đang cuồn cuộn chảy. Dòng nước ấy trôi mãi, trôi mãi không ngừng, mang theo cả niềm vui và nỗi khổ đau của cuộc đời.

Ý tưởng dàn dựng bộ phim Thơ đã được đạo diễn Lee Chang-dong thai nghén từ lâu, sau khi ông được biết câu chuyện trong đời thực về một cô nữ sinh ở một thành phố nhỏ bị một nhóm trẻ vị thành niên hãm hiếp. Đạo diễn Lee Chang-dong cho biết, sở dĩ ông đưa thơ vào điện ảnh vì nghĩ rằng, cuộc sống dù xấu xa đến đâu thì ở một nơi nào đó vẫn tồn tại những tâm hồn thơ cao đẹp, quý phái.

Kịch bản phim Thơ được đạo diễn Lee Chang-dong viết dành riêng cho nữ diễn viên Yoon Jeong-hee, người đã từng nổi tiếng ở Hàn Quốc trong các thập niên 1960 và 1970, nhưng sau đó đã nghỉ đóng phim một thời gian dài. Bà Yoon Jeong-hee đã hoàn thành xuất sắc vai diễn này. Cả bộ phim lẫn diễn viên chính và diễn viên phụ đều đã được tặng nhiều giải thưởng danh giá. Riêng đạo diễn Lee Changdong thì được Ban giám khảo Liên hoan phim Cannes năm 2010 trao giải kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất. Hồi đó, một số nhà phê bình đã lấy làm tiếc là phim Thơ không đoạt giải Cành cọ vàng.  Có người đánh giá, bộ phim Thơ thậm chí còn hay hơn cả Tia nắng bí mật, một bộ phim cũng của Lee Chang-dong đã từng được đề cử  giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes năm 2007.

Cũng cần phải nói thêm là đạo diễn Lee Chang-dong trước khi  bước vào điện ảnh đã là một nhà văn nổi tiếng. Ông cũng đã từng đảm nhiệm chức Bộ trưởng Văn hóa và Du lịch Hàn Quốc từ năm 2003 đến năm 2004.

Thơ là một bộ phim hay. Ai chưa thưởng thức hãy tìm xem.

Lương Duyên Tâm

 

 

 

 

Monday, September 2, 2013

8 bài thơ của Jan Skacel, Lương Duyên Tâm dịch


8 bài thơ của Jan Skacel

 

 

Jan Skacel (1922-1989) là một trong số những nhà thơ chủ chốt trong văn học Séc nửa sau thế kỷ 20. Ông cũng là nhân vật có vai trò quan trọng trong đời sống văn học Tiệp Khắc với tư cách là Tổng biên tập tạp chí Host do domu trong các năm từ 1963 đến 1969. Sau phong trào Mùa xuân Praha năm 1968, Jan Skacel nằm trong danh sách các nhà văn bị cấm xuất bản các tác phẩm của mình và mãi cho đến giữa thập niên 1980 ông mới xuất hiện trở lại trong đời sống văn học Séc. Trong số các tác phẩm mà Jan Skácel đã xuất bản có các tập thơ: Điều gì còn lại của thiên thần, Niềm hy vọng với đôi cánh gỗ dẻ, Ai uống rượu vang trong bóng tối …Dưới đây là 8 bài thơ của Jan Skacel do Lương Duyên Tâm dịch từ nguyên bản tiếng Séc, một số đã được in trong tạp chí Thơ của Hội nhà văn Việt Nam.

 

Ảnh: Nhà thơ Jan Skacel

 

 

Jan Skacel

 

Cầu nguyện cho nước

 

 

Ngày càng ít những nơi chốn để những người yêu thuở xưa đi lấy nước

những con hưu thỏa mãn cơn khát, những con ếch sinh tồn

những người hành hương cúi xuống vốc nước

 

Nước vẫn còn nhớ điều đó

nước thật đẹp

nước của tôi

nước của tôi tóc buông xõa

hãy che chở nước của tôi

xin đừng làm đui mù chiếc gương soi của trời sao

 

Hãy dẫn đến nước con ngựa nhỏ

hãy dẫn đến nước con ngựa đen tuyền như đêm

nước buồn đau

nước của tôi

nước của tôi tóc rối

ai đó lặn xuống tận đáy, chạm tới những ngôi sao vì một chiếc nhẫn

 

Nước là góa phụ buồn rầu

nước của tôi

nước tro tàn tóc xõa của tôi

nước than phiền oán trách chúng ta.

 

                                         Lương Duyên Tâm dịch

 

 

 

Jan Skacel

 

Con đường có hai hàng cây nở hoa

 

Trên con đường giữa hai hàng cây đang nở hoa trắng

chúng tôi nín thở.

Như tuyết trong những bông hoa

trên tán cây cao.

 

Những cái cây

kiêu hãnh đón chào sự sống.

Chúng gìn giữ không biết mệt mỏi

năng lực nở hoa của mình

 

Tôi đập vỡ ngôn từ

như đập đá trên công trường.

Vợ tôi chỉ nói:

Em muốn được sống trong cái cây này.

 

                         Lương Duyên Tâm dịch

 

 

 

Jan Skacel

 

Hè muộn

 

Ngày hôm qua bay trong không khí sợi tóc bạc đầu tiên.

Ngân vang

khi từ từ rơi xuống đất

và những ngôn từ

thô nháp không khuất phục

mắc trong cổ họng tôi như xương cá.

 

Mùa hè của ta

mi đã hoa râm rồi sao?

 

Rồi ngày mai mùa thu sẽ tới

rồi cây cối sẽ bay đi

rồi chúng ta sẽ hỏi

đi về đâu và hướng tới ai.

 

Rồi sự lặng câm, khổ sở như lũ chuột đồng

đây đó sau lưng ta huýt sáo.

 

Mùa hè của ta

mi đã hoa râm rồi sao?

 

                            Lương Duyên Tâm dịch

 

 

 

Jan Skacel

 

Nhân vật nổi bật

 

Tôi mua một cái bình tưới nước

cho dù tôi không phải là người làm vườn

cũng không chăm sóc mộ

tôi mua nó chỉ vì tôi thích

nó mới và sáng loáng

tôi không làm điều dại dột

 

Tôi cầm cái bình không gói gém

để mọi người nhìn thấy

rằng tôi có nó

nhất định sẽ có người ghen tị với tôi

tôi biết vậy

 

Họ sẽ nói: Này, xem kìa

anh ta có cái bình tưới nước đẹp chưa

nhưng anh ta mang đi đâu thế nhỉ

và để làm gì?

 

Rốt cuộc tôi đã khơi dậy sự chú ý

của những người chẳng bao giờ để ý đến tôi

nhờ cái bình tưới nước tôi trở thành người được quan tâm

một nhân vật nổi bật.

 

                             Lương Duyên Tâm dịch

 

Jan Skacel


Tôi muốn nghe


 

Tận cùng mỗi bài hát


Kể cả những bài hát buồn bã nhất


Cũng như dưới đáy mỗi chiếc cốc


Tôi muốn nghe một tiếng leng keng khe khẽ.


Đôi khi nhiều


Đôi khi ít.


 


Tôi muốn nghe


Có trời biết vì sao


Tôi buộc phải chờ đợi để  nghe


Cái tiếng leng keng đó


Nếu không trái tim tôi lo sợ.


                 Lương Duyên Tâm dịch


 

 

 

 

Jan Skácel  

 

Niềm hy vọng có đôi cánh gỗ dẻ

 

 

Hãy đốt nến cho buổi sớm mai

Một buổi sáng xa lạ và còn chưa rõ mặt

Như thiên thần ngủ trong gỗ bồ đề

Chờ đời nhà điêu khắc.

 

Đôi khi thiên thần tức giận chúng ta

Chúng ta mỗi người ai cũng có thiên thần

Niềm hy vọng có đôi cánh bằng gỗ dẻ

Và trái tim bằng gỗ bồ đề.

 

                 Lương Duyên Tâm dịch

 

 

 

Jan Skacel

Đám tang Jaroslav Seifert

 

Mọi người vẫn còn đang thả những hòn đất xuống huyệt

Để đất quê hương đè lên anh nhiều hơn.

Những người lái xe nổ máy dưới bức tường

Có vẻ như đang mưa nhỏ

 

Nghĩa trang trở nên vắng vẻ

Im ắng

Như có ai đó thả chó trong sân nhà mình

 

Và khi bóng tối bao trùm

Nàng Victoria điên khùng xinh đẹp sẽ tới từ đập nước

Mái tóc nàng cài bông hoa súng.

 

                    Lương Duyên Tâm dịch

 

Jan Skácel 

 

Tục ngữ

 

 

Tôi lo lắng cho thế giới này đến nỗi

Tôi bắt đầu sáng tạo ra tục ngữ.

 

Có những chân lý dài và có những chân lý ngắn.

Nếu sự trừng phạt không đến ngay tức khắc,

Bạn có thể phải đi tù suốt đời vì tội lỗi của mình.

Không ai có thể không làm điều đã làm.

Không ai có thể viết bài hát

Cho một cô gái mù và cho con chim không có cánh.

 

                    Lương Duyên Tâm dịch

 

Sunday, September 1, 2013

4 bài thơ của Vitesslav Nezval


4 bài thơ của Vitesslav Nezval

Viteslav Nezval (1900-1958) là một trong số những nhà thơ lớn của dân tộc Séc, người đã từng đi tiên phong trong một số trào lưu thơ ca hồi thế kỷ 20, trong đó có trào lưu siêu thực. Ông cũng nổi tiếng là thi sĩ viết khỏe. Trong số các tác phẩm của ông có các tập thơ: Abeceda, Pantomima, Tháng năm, Akrobat, Chữ đề trên mộ, Năm ngón tay, Phụ nữ trong số nhiều, Praha với những ngón tay mưa, Mẹ hy vọng, Tiếng hát hòa bình, Lời từ biệt và chiếc khăn, Edison, Bài ca hoà bình, Người khách đêm, Manon Lescaut, Valerie và tuần lễ kỳ diệu...

 

Ảnh: Nhà thơ Viteslav Nezval

 

Viteslav Nezval

Tháng chín

Mùa thu đã trả lá

Cho phí tổn của mình

Đã hết rồi tình yêu

Đã hết rồi căm ghét,

Mùa thu đã trả lá

Và sẽ không quay về

 

Từ đôi mắt của em

Có gì rơi như lá

Công viên thì vắng vẻ

Lối đi thì hoang vu

Từ mắt em lệ nhỏ

Lá rơi từ tổ chim.

 

Lương Duyên Tâm dịch từ nguyên bản tiếng Séc

 

 

Viteslav Nezval


Đôi mắt em chung thủy


 


Ngày ngày anh tìm kiếm


Đôi mắt đẹp của em


Anh không bao giờ quên


Cũng không rời bỏ chúng.


 


Ngày ngày anh tin tưởng


Sẽ cùng đôi mắt em


Đi suốt cuộc đời mình


Có điều đôi mắt ấy


Vẫn chưa thuộc về anh.


 


Đôi mắt đẹp của em


Đang ở đâu, ở đâu


Chúng mang đến cho anh


Niềm hạnh phúc vô cùng.


 


Như bản nhạc không lời


Như ngọn gió ngân nga


Đôi mắt đẹp của em


Không bao giờ phản bội.


 


Lương Duyên Tâm dịch từ nguyên bản tiếng Séc


 

 

Viteslav Nezval

Khoảnh khắc

 

Em yêu, trong miệng em có quả anh đào chín mọng

Có ngon không anh?

Buổi chiều hôm ấy cũng như hôm nay

Sẽ không quay trở lại.

 

Em yêu

Trong miệng em có quả dâu tây

Trong mắt em có bông hoa thạch thảo

Suốt cuộc đời mình, từ những khoảnh khắc tình cờ ấy

Anh đã sống hạnh phúc tới ngày hôm nay.

 

Lương Duyên Tâm dịch từ nguyên bản tiếng Séc

 

 

Viteslav Nezval  

 

 

Xà phòng

 

 

Giống như trái tim người mẹ

Xà phòng làm tiêu tan cặn bã

Tỏa hương thơm như hoa hồng

Sủi bọt như tình yêu, nứt vỡ như nỗi đau.

 

 

Lương Duyên Tâm dịch từ nguyên tác tiếng Séc