Wednesday, June 19, 2013

Truyện ngắn Kỳ thi của nhà văn Séc Eduard Petiska, Lương Duyên Tâm dịch


Kỳ thi
 
 
Truyện ngắn của Eduard Petiska



Trong phòng vẫn còn tối đen, chỉ có chút ánh sáng màu xanh lá cây tỏa ra từ những chữ số trên mặt chiếc đồng hồ báo thức. Kim chỉ một giờ rưỡi.

 

Denisa không ngủ được. Thời gian gần đây cô đâm ra hay buồn ngủ về ban ngày, còn ban đem thì lại tỉnh.Trong đêm cô thường hay nghĩ lung tung về những chuyện mà ban ngày cô không nghĩ đến. Có thể nói đó là những nỗi lo âu. Ở đấy có mẹ, có Lesek và có kỳ thi tốt nghiệp trung học đang chờ cô sau hai tháng nữa.

 

Lesek nằm bên cô và đang ngủ.Cô có thể hình dung ra anh ngay cả trong bóng đêm.Anh nằm nghiêng về bên phải, đầu gối co lại, mái tóc dài của anh xõa trên vai trần.Bất cứ lúc nào nghĩ về Lesek là cô lại nhớ đến mẹ.

 

Sáng hôm qua mẹ đi đi lại lại trong căn hộ hai phòng mà hai mẹ con đã ở với nhau suốt mười hai năm trời, kể từ khi bố cô bỏ đi, lúc con gái ông mới có năm tuổi. Mẹ đi lại trong phòng và từ người mẹ tỏa ra cái mùi của bệnh viện. Mặc dù trước khi về nhà, mẹ đã thay áo và để ở chỗ làm việc cái áo blu của hộ lý nhưng mẹ vẫn như chuyển cả cái bệnh viện về nhà. Về mặt này thì con gái bà có khứu giác đặc biệt thính nhậy. Lúc bấy giờ mẹ cô cứ đi lại mãi trong phòng để truy tìm dấu vết. Và khi mẹ bước vào thì câu chuyện bắt đầu.

 

Denisa!- Mẹ la, - Cái thằng ấy lại đến đây phải không?

 

Câu nói này Denisa đã nghe thấy cách đây nửa năm, bằng cái giọng hệt như thế và cũng đúng vào giờ này. Nửa năm trước đây cô và Lesek còn thận trọng hơn. Bao giờ họ cũng cố gắng xóa các dấu vết. Những đầu mẩu thuốc lá trong cái gạt tàn đã được đổ đi sạch. Trong khi mẹ cô đi tới đi lui trong phòng và quát tháo thì Denisa tin chắc rằng những đầu mẩu thuốc lá kia là những chứng cứ duy nhất để chứng minh sự có mặt của Lesek và cô dần dần bình tĩnh lại. Cô cố giữ im lặng, không cãi mẹ.

 

Mẹ cô cáu kỉnh đi quanh cô. Trong lời mẹ nói bao gồm cả sự mệt mỏi, nỗi tức giận và tình trạng bất lực.

 

-         Mẹ thì đi trực đêm… Còn con, con dẫn trai vào phòng ngủ…

 

Denisa chỉ chọn nghe trong những lời trách mắng một số từ.

 

-         Anh ấy là bạn con, cô trả lời.

 

-         Thật xấu hổ, -mẹ cô nói. Cứ thế, rồi chẳng bao lâu nữa con sẽ trở thành một đứa con gái hư hỏng.

 

Denisa không còn nhận ra mẹ nữa.

 

Tất cả những chuyện xảy ra sáng hôm qua cũng giống như tấn kịch om sòm xảy ra cách đây nửa năm. Lần ấy Lesek để quên chiếc mũ ở nhà cô. Ngay tối hôm đó, khi mẹ đi trực đêm thì Lesek đến. Denisa nói ngay với anh về chuyện chiếc mũ.

 

-         Thế à…- anh ngạc nhiên. – Em biết không, anh hoàn toàn không nhớ là mình đã mang theo mũ. Thế nó đâu?

-         Mẹ em mang đi rồi.

-         Mẹ có biết tên anh không?

-         Không.

Anh ôm lấy vai cô và dẫn cô đến bên giường.

-         Không, không, - cô nói, -  hôm nay chúng mình đi xem phim.

-         Anh không thích xem.

-         Sao lại không?

-         Em thừa biết là anh đang muốn gì.

Anh ngồi lên giường và nhìn cô đang đứng bối rối cạnh bàn. Bao giờ cũng thế, kể cả hôm ấy.

        -   Em yêu anh cơ mà, - cô nói khẽ.

         -  Như yêu mẹ và yêu bố chứ gì?

         -  Không phải.

Tình cờ anh đã nhắc đến bố cô.

-         Em có còn yêu anh nữa không?

-         Anh không thấy là em vẫn yêu anh à?

-         Như yêu mẹ và…

-         Anh từ từ đứng dậy, từ từ đi vòng qua bàn, từ từ đi ra phía cửa. Anh chờ cô giữ lại. Nhưng cô không giữ anh. Anh bước ra ngoài hành lang. Cô đi theo anh và mở cửa cho anh.

 

Khi anh bước xuống thềm, đế giày xiết lên bậc cầu thang kèn kẹt như có ai dùng dao cùn cắt một khúc bần.

 

Cô chạy theo và đuổi kịp anh ở tầng mặt đất. Cô dẫn anh lên , tim đập thình thịch vì sợ có người nào đó nhìn thấy họ đi với nhau; nhưng không ai nhìn thấy.

 

Hôm ấy là đêm đầu tiên Lesek ngủ ở nhà cô. Từ đó đến nay đã mấy tháng rồi. Từ đó đến nay mẹ cô đã có bao nhiêu buổi trực đêm và cô với Lesek đã ở với nhau thêm bao nhiêu lần nữa. Gần nửa năm rồi còn gì.

 

Lesek đã quen thuộc với căn phòng như là người trong gia đình nhưng không ai biết gì về anh. Nếu không có những đầu mẩu thuốc lá và cái mũ ấy thì ngay cả mẹ cũng không tài nào biết được. Denisa không bao giờ kể với ai về anh, kể cả các bạn học của mình. Bất cứ khi nào cô cảm thấy băn khoăn về mối quan hệ của mình thì ý thức lại an ủi cô rằng mọi chuyện cô làm là hoàn toàn bí mật, và điều bí mật đó đã làm cho cô có vẻ khác người. Cô thấy thích thú vì thấy mình không giống những người bình thường, nhất là điều bí mật kia lại liên quan đến một người đàn ông.

 

Cách đây không lâu bố cô là người đàn ông duy nhất trong gia đình. Dù ở rất xa nhưng từ ông vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng rất đặc biệt nào đó, tương tự như ánh lửa của đám cháy ở phía xa xăm, nó làm cho người ta lo ngại nhưng đồng thời lại khêu gợi cả sự tò mò.

 

Bố cô hiện đang sống ở Australia nhưng không ai biết đích xác ông đang sống vất vưởng hay đã trở thành một người giàu có. Chỉ có mẹ cô là luôn luôn tin chắc rằng ông vẫn đang sống một cuộc đời khốn khổ. Khi mà bố cô đã từ bỏ gia đình cô để ra đi thì có nghĩa là bố coi mẹ con cô như đã chết. Nếu vậy thì đối với mẹ con cô, bố cũng như đã chết rồi, có điều chết mà không đi viếng mộ được mà thôi.

 

Sau khi bố đi, mẹ cô đã gỡ bức ảnh treo trên tường xuống. Trong bức ảnh viền khung kim loại ấy có một người đàn ông còn trẻ ngồi trên chiếc xe mô tô và đang mỉm cười. Người đàn ông ấy là bố cô, còn cái xe mô tô ông đang ngồi là của một người bạn.

 

-         Cả đến cái xe mô tô ông ấy cũng đi mượn, - mẹ cô thường nói thế.

 

Bức ảnh để lại trên tường một vệt mờ hình chữ nhật, nhưng giờ đây, sau bao nhiêu lần quét vôi lại, không ai có thể nhận ra trước đây nó đã được treo ở chỗ nào. Một lần Denisa hỏi mẹ về bức ảnh đó nhưng mẹ cô nghiêm khắc từ chối. Trong cuộc đời mình Denisa đã mất cả bố lẫn bức ảnh duy nhất của ông. Đôi khi cô có cảm tưởng rằng cô đã đánh mất một cái gì đó mà cô chưa hề có. Cảm giác đó khiến cô thấy mình cần phải thổ lộ với mẹ về các bạn trai cùng lớp hoặc cùng phố với mình.

 

-         Ôi dào! – Mẹ cô thường lạnh lùng nói thế và trong mắt mẹ ánh lên sự nghi ngờ được giấu giếm một cách vụng về, rằng con gái bà đã bắt đầu thừa hưởng được tính di truyền của bố nó.

 

Mẹ không bao giờ nói chuyện về đàn ông. Giữa mẹ và những người đàn ông là kinh nghiệm sống không thành đạt với người chồng và nó như một trở ngại, mặc dù với những người đàn bà khác, - điều này Denisa đã có cơ hội quan sát xung quanh, – những người đàn bà khác thì lại sử dụng thất bại của mình với người chồng cũ như là một cái cầu để đến với người đàn ông khác và người đàn ông khác nữa. Giờ đây cô đã không còn nhớ vẻ mặt bố cũng như cô không thể nào phục hồi được diện mạo của ông. Trong phòng bên cạnh có treo bức ảnh của ông ngoại cô. Trong ảnh là một người đàn ông trẻ, đẹp, để ria,  đang chăm chú nhìn. Thế rồi trong trí tưởng tượng của cô, hình ảnh người bố đã thay bằng vẻ mặt của ông ngoại và rốt cuộc, khi cô nghĩ về bố thì gương mặt người ông thời trẻ hiện ra.

 

Cách đây sáu năm, người đưa thư mang đến một bức thư của bố cô. Đó là lá thư đầu tiên và cũng là lá thư duy nhất. Denisa tin chắc mẹ sẽ đọc to lá thư này cho cả cô cùng nghe.

 

-         Thư của ai thế mẹ? – Cô hỏi.

-         Của ông ấy.

-         Mẹ đọc đi.

-         Không…- Mẹ cô trả lời và bỏ lá thư vào túi tạp dề.

 

Mẹ đã cất kỹ lá thư. Mẹ bỏ nó vào ngăn kéo và khóa lại. Thế nhưng trên thế gian này không có thứ bí mật nào có thể giữ kín được.

 

Một lần mẹ cô vội đi trực và quên khóa ngăn kéo. Thế là Denisa lấy được bức thư mà từ lâu cô vẫn ao ước đọc nó. Ở nơi nào đó chắc chắn phải tồn tại một chiếc chìa khóa để cô mở cánh cửa quá khứ mà bấy lâu nay mẹ vẫn đóng chặt trước mắt cô. Denisa khao khát sự thật đến mức lúc cô rút bức thư từ chiếc phong bì có dán những con tem to và sặc sỡ ra, miệng cô khô lại vì cảm động. Lá thư tuột khỏi tay cô. Cô nhặt lá thư từ dưới sàn nhà lên, hấp tấp đọc:

 

Magda, – lá thư viết – tôi không được all right lắm, vì thế tôi viết thư này cho cô. Nếu tôi được all rirght thì tôi không viết thư cho cô đâu. Tôi đã nếm trải nhiều, hưởng thụ cũng không ít, nhưng điều ấy cũng chẳng cần phải nói vì lúc nào cô cũng biết cái mà cô cần biết và không ai có thể thuyết phục cô được. Bao giờ cô cũng đúng. Cô có biết vì sao tôi bỏ đi không? Vì cô là người không ai có thể chịu đựng được bởi vì những lý thuyết của mình. Lúc nào cô cũng cho là mình đang nắm giữ lẽ phải và không có ai khác ngoài cô. Còn tôi thì tôi muốn sống tự do. Nhưng làm gì có tự do khi tôi luôn sống trong nhục nhã. Điều nàu tôi chưa được giãi bày, vì thế nên tôi mới viết lá thư này. Suốt bảy năm trời tôi không viết, do đó cả lá thư này cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì hết. Nhưng giờ đây tôi không được all right, vì thế nên tôi mới viết. Cô hãy cứ việc sống theo các nguyên lý của mình.

Karel

 

Thoạt tiên Denisa không hiểu gì cả. Cô nghĩ, có lẽ vì cô đọc quá nhanh nên đã không hiểu được ý nghĩa sâu xa và bí hiểm của bức thư. Cô kiểm tra kỹ lá thư, xem nó có đúng là nét chữ của bố cô không. Ở một vài đoạn nét chữ thay đổi, như thể cái bàn viết bị cập kênh và cuối câu, trước các dấu chấm, nét chữ được kết thúc bằng những nét uốn cong cong một cách không cần thiết.

 

Denisa ngắm chiếc phong bì, những con tem Australia và những cái dấu bưu điện không tài nào đọc được. Sau đó cô đọc lại bức thư một lần nữa. Cô thấy buồn vì bố đã không hề nhắc đến cô. Nhưng ngay cả mẹ cô bố cũng không nhắc đến. Bố chỉ toàn nói về mình và về mình mà thôi. Mẹ Denisa chỉ là đối tượng để bố cô kêu ca về những nỗi dằn vặt của mình.

 

Lẽ ra mình không nên đọc lá thư ấy, - cô tự trách móc bản thân. – Trên đời này có lẽ tốt hơn cả là có một vài điều ước không toại nguyện, hoặc nếu có được toại nguyện thì cũng từ từ thôi, đừng đường đột quá. Ý nghĩa của việc đọc lá thư thì cô được biết vào sáng hôm qua, khi mẹ cô la mắng cô vì mấy cái đầu mẩu thuốc lá của người lạ trong phòng. Cơn bực tức của mẹ cô có lẽ đã được tích lũy từ trước, sau một đêm thức trắng ở bệnh viện. Và Denisa bỗng nhận ra rằng, mẹ cô không chỉ trích Lesek, người mẹ không hề quen biết, mà mẹ chỉ trích cái người đàn ông đã bỏ mẹ mà đi, cái con người không hề biết nhận một chút xíu lỗi lầm nào đối với số phận của mẹ. Chính vì ghét bố nên mẹ đã ghét lây sang cả những người đàn ông khác. Denisa bỗng thấy những lời nói của mẹ cô trở nên đáng ghét. Cô không còn giữ được im lặng nữa và lên tiếng cãi lại.

 

-         Mẹ thì bao giờ cũng đúng! – Cô nói và không nhận ra là mình đã trả lời mẹ bằng chính cái câu mà cô đã lấy ra từ bức thư của bố. Và mẹ cô nhận ra ngay vì bà cũng đã thuộc lòng bức thư kia. Bản thân bà cũng đang ấm ức vì không có địa chỉ để trả lời người chồng cũ một cách thẳng thừng và sòng phẳng.

-         - Vậy ra cô đã đọc bức thư ấy rồi, - mẹ la lớn. -  Thì ra cô không chỉ dẫn trai vào phòng ngủ mà còn thọc tay, gí mũi vào ngăn kéo bàn của người khác.

 

Vì không chế ngự được cơn giận dữ, mẹ cô đã thốt ra cả những từ ngữ mà cô chưa từng nghe thấy từ miệng bà. Thật là khó chịu khi thấy mẹ hèn hạ đi vì tức giận và tầm thường đi vì những lời mà bà thốt ra. Giờ thì chẳng khác nào cuộc cãi vã giữa mẹ và bố. Cái mà bà không viết cho chồng được thì bà trút cả vào Denisa.

 

-         Không ai cho tôi là người xấu cả., - mẹ than thở. – Chỉ mỗi bố cô thôi. Cả cô nữa. Phải chăng bởi vì tôi đã hy sinh tất cả cho cô?  Không. Bởi vì cô chẳng khác gì bố cô cả. Nhưng, nói để cô biết, - bà òa lên khóc, - tự tôi, tôi gánh chịu số phận của mình. Có thể là tôi cô đơn giữa mọi người. Nhưng bố cô và cô, các người chẳng ai chịu gánh vác cái gì hết. Chẳng ai chịu gánh vác cái gì hết!

 

Mẹ tiếp tục độc thoại. Bà kể lể mãi về những nhược điểm của bố như tính nhẹ dạ, không chung thủy và vô số những chi tiết phản bội nhỏ nhen khác. Kể cả tính lười biếng. Phải rồi, mẹ đã dùng từ lười biếng. Càng tức giận mẹ càng cất cao giọng và Denisa cảm thấy hơi thở nóng bừng của mẹ dù cô ngồi cách mẹ một khoảng cách khá xa.

 

-         Lần thứ nhất, - mẹ kể lể,- lần thứ nhất ông ta đã lẩn tránh tôi khi tôi nói rằng tôi sắp có con. Bố cô là một người vô trách nhiệm. Nghe nói đến nghĩa vụ là biến mất ngay lập tức. Tôi đã đi truy lùng bố cô và dẫn ông ta về. Nếu không làm quyết liệt như thế thì cô đã chẳng có bố.

 

Denisa lắng nghe mẹ nói và thay vào khuôn mặt người bố mà cô không còn nhớ, trước mắt cô hiện ra vẻ mặt của ông ngoại hồi còn trẻ, một khuôn mặt vui tươi và tự tin. Chính vì thế cô không hiểu nổi mẹ, không hiểu những lời than vãn và oán trách của bà mà nguyên do chỉ vì mấy cái đầu mẩu thuốc lá. Cô thấy mẹ xa lạ và chỉ thấy thương hại mẹ vì bà đã bị bố lừa đảo mà thôi. Lá thư của bố mà cô bí mật đọc được giờ mới bắt đầu có ý nghĩa. Cô được nghe những điều mà bố cô có thể nói ra. Sau đó cô không nghe mẹ kể lể nữa. Dù sao thì chuyện cũng đã xảy ra rồi. Những lời mẹ nói chỉ làm cho Denisa thêm đơn độc, mà trên đời này cái cô sợ nhất là sự cô đơn.

 

Nếu không có những buổi chiều cô đơn thì cô đã không quen biết Lesek. Lesek lúc nào cũng có vẻ tự tin, giống như vẻ tự tin toát ra từ bức ảnh chân dung của ông ngoại. Anh nói với cô rằng anh đang học ở trường đại học kỹ thuật. Anh kể cho cô nghe vô số chuyện thú vị, về các loại động cơ với vẻ tin tưởng chắc chắn rằng cô sẽ thích. Và đúng là cô đã bắt đầu thấy thích thật.

 

- Cô không nghe thấy tôi nói à? – Mẹ hỏi.

- Có ạ, - cô nói dối.

- Rồi đến lúc cô muốn nghe tôi thì đã muộn mất rồi, - mẹ cô kết thúc. Bà đã hoàn toàn kiệt sức và lê bước sang phòng bên để ngủ nốt nửa ngày còn lại sau một đêm thức trắng ở bệnh viện.

 

Bây giờ, khi đêm đã chuyển dần về sáng, trong ánh sáng xanh mờ của chiếc đồng hồ báo thức, Lesek đang nằm ngay bên cạnh cô. Cô nghe thấy tiếng anh thở vào gối. Mẹ cô giờ đang trực ở bệnh viện. Căn nhà im ắng trong giấc ngủ.

 

Denisa vẫn không sao ngủ được.

 

Giờ đây, khi một khoảng thời gian đã trôi qua, cô nghe thấy những lời mẹ nói rành rọt hơn cả khi ngồi đối diện với mẹ. Vì sao bố cô bỏ đi? Vì sợ trách nhiệm hay vì không yêu mẹ cô? Chẳng lẽ cô phải nghe theo những lời răn dạy của mẹ, suốt đời phải giới hạn mình và xa lánh đàn ông? Chẳng lẽ cô lại thừa hưởng từ mẹ tính cứng đầu bướng bỉnh và tính không khoan nhượng, luôn luôn bảo vệ một cách vô ích lẽ phải của mình?

 

Thời gian gần đây cô và Lesek thường hay cãi nhau về những chuyện không đâu. Không đâu trong đêm, khi Lesek ngủ, nhưng ban ngày thì nó lại có ý nghĩa to tát đối với cô. Phải chăng đó là dấu hiệu chỉ ra rằng cô đã thừa hưởng từ mẹ một cái gì đó mà tốt nhất cô không nên thừa hưởng. Phải chăng đó là dấu hiệu báo trước rằng cô sẽ mất Lesek.

 

Cô mò mẫm tìm công tắc đèn bàn. Cô thấy chưa thỏa mãn khi chỉ nghe thấy tiếng anh thở và cảm thấy trên vai trần của mình mái tóc anh, Cô thấy cần phải nhìn anh, xác định vẻ mặt anh để biết chắc chắn rằng mọi chuyện vẫn như cũ, chẳng có gì xảy ra cả. Sau mấy lần sờ soạng mà không thấy công tắc, cô mới nhớ ra là tối hôm qua cô đã chuyển cái đèn ra xa giường. Cô không thích cởi quần áo trong ánh sáng điện. Lesek thì không thể nào hiểu được điều đó. Vì vậy cô phải mang cây đèn ra tận góc phòng và bây giờ nó vẫn còn ở đó.

 

Denisa thận trọng trở dậy bật đèn. Qua cái tán loe, ánh điện tỏa sáng như một làn sương màu hồng dịu. Denisa quay trở lại giường, kéo chăn đắp lên người. Cô quan sát vẻ mặt Lesek. Anh nằm nghiêng, má bên phải đặt trên gối. Trong bóng đêm cô nghe rõ tiếng anh thở, thế mà bây giờ cô thấy hình như anh không còn thở nữa. Anh nằm không động đậy như thể đã chết. Cô hoảng hồn. Đúng lúc đó Lesek cựa mình và đụng mặt vào cánh tay cô đang đưa ra thử cản hơi thở của anh. Lesek lim dim mắt, trán cau lại.

 

-         Có chuyện gì thế? Đến giờ rồi à? – Anh thốt lên.

 

Cô xấu hổ.

 

-         Chẳng có chuyện gì cả. Anh cứ đi ngủ đi. Em tắt đèn ngay bây giờ.

 

Cô tắt đèn và nằm trằn trọc một lúc. Cô vẫn không ngủ được. Cô lại linh cảm thấy rằng cô sẽ mất Lesek. Cô lắng nghe tiếng thở của anh. Nhưng vì không nghe thấy gì nên cô lại đi về phía cây đèn. Cô bật điện và chưa kịp trở lại giường đã thấy Lesek ngồi dậy.

 

-         Em làm trò gì vậy? – anh hỏi. – Em làm sao thế?

-         Chẳng sao cả.

-         Có. Em làm sao ấy.

 

Đúng lúc ấy một câu hỏi lóe lên trong đầu cô. Sau này, khi nhớ lại, cô phải tự thừa nhận rằng, nếu không có trận cãi nhau với mẹ vừa qua thì cô không thể nảy ra ý nghĩ ấy giữa đêm khuya, trong ánh sáng màu hồng dịu của căn phòng.

 

-         Nhỡ em có con thì sao? – cô hỏi.

-         Tất nhiên đó là điều vô lý.

-         Đấy là anh nghĩ thế.

-         Vô lý. Con nào?

-         Con chúng ta chứ còn con nào! – Cô nói.

 

Anh thả hai chân xuống sàn nhà. Khi ngủ Lesek mặc quần đùi và cởi trần, cái lưng trắng của anh lấm tấm tàn hương. Anh nhún vai mấy lần liền.

 

-         Nếu chuyện đó xảy ra thì tôi chẳng hề có lỗi gì hết,

-         Vậy ai có lỗi? – Cô hỏi.

 

Anh với cái quần vắt trên ghế, lấy ra bao thuốc lá và châm thuốc hút. Cô thận trọng cầm lấy que diêm đã tắt từ tay anh.

 

-         Chuyện đã xảy ra rồi. Anh phải lấy em làm vợ thôi.

-         Cưới ư?

-         Vâng.

-         Chà! – Anh thốt lên.

 

Cô ngạc nhiên vì thấy Lesek bỗng nhiên trở nên lung túng, thiếu tự tin. Nhưng rồi anh vẫn có cách giải quyết.

 

-         Cô nghe đây. – Anh vừa nói vừa bóp vụn điếu thuốc lá và bỏ nó vào cái gạt tàn. – Xin cô hãy loại tôi ra khỏi màn kịch này.

-         Anh…

-         Khi một đứa con gái đã dẫn một thằng đàn ông vào phòng ngủ của mình vào ban đêm…

-         Anh…

 

Anh chùn bước trước ánh mắt cô, với tay lấy chiếc áo sơ mi. Anh vội vã, luống cuống mặc quần áo, trong khi miệng vẫn nói liến thoắng.

 

-         Khi một đứa con gái đã dẫn một thằng đàn ông vào phòng ngủ …nó có thể dẫn vào phòng cả những thằng khác…Khi một đứa con gái đã…

-         Anh câm mồm ngay! – Cô hét lên.

 

Anh đưa tay chỉ vào tường, như muốn báo cho cô biết: hàng xóm.

 

Cô mặc bộ áo ngủ vào người và mang chìa khóa ra trước. Vừa đi Lesek vừa xỏ giày.

 

Cô mở cửa nhà. Trời đã hửng sáng. Vầng trăng trên bầu trời như kỷ niệm của đêm qua còn lưu lại.

 

Khi quay trở về phòng, cô bước thẳng đến phòng tắm và dội người rất lâu bằng nước lạnh. Sau đó cô lấy vỏ chăn, vỏ gối cũ ra và thay bằng những thứ mới. Cô mở cửa sổ thông khí trong phòng. Cô rửa thật kỹ cái gạt tàn. Vậy mà cô vẫn chưa thấy thỏa mãn niềm khao khát muốn cho mọi thứ thật sạch sẽ.

 

Cô để lên bàn tập câu hỏi chuẩn bị thi tốt nghiệp môn địa lý. Đồng hồ báo thức chỉ bốn giờ năm mươi ba phút. Cô nhìn chăm chú vào trang giấy nhưng phía sau những dòng chữ là khuôn mặt Lesek đang nhìn cô.

 

Mình căm thù anh ta. Cô nghĩ thầm. Nhưng cũng chẳng biết cô căm thù Lesek hay căm thù chính bản thân mình hơn. Nếu không có anh ta cô đã chẳng phải trải qua thử thách này. Hoặc nếu không có mẹ cô thì cô cũng chẳng nghĩ ra trò thử thách hay kiểm tra nào hết.

 

Nhưng càng nghĩ cô càng cảm thấy tiếc vì tất cả những gì vừa xảy ra chỉ như một kỳ thi hay kiểm tra mà thôi. Rồi cô nghĩ đến bố, người đã sống với mẹ cô ít nhất cũng năm năm trời. Và năm năm bỗng hiện ra trước mắt cô như một quãng thời gian tuyệt đẹp vô cùng tận.

 

 

Lương Duyên Tâm dịch

 

 

(Rút từ tập truyện ngắn Thế giới tràn đầy tình yêu của nhà văn Séc Eduard Petiska, Lương Duyên Tâm dịch từ nguyên bản, Nhà xuất bản Văn học, năm 1998)

 

Thursday, June 13, 2013

Bài thơ Một lý do nữa khiến tôi không giữ súng trong nhà của nhà thơ Mỹ Billy Colins, Lương Duyên Tâm dịch


Billy Collins

 

Một lý do nữa khiến tôi không giữ súng trong nhà

 

Con chó nhà hàng xóm sủa không ngừng nghỉ

Nó sủa giọng cao nhịp điệu du dương

Cứ mỗi lần chủ rời nhà là nó sủa

 

Con chó nhà hàng xóm sủa không ngừng nghỉ

Tôi đã đóng tất cả các cửa sổ trong nhà

Rồi bật băng nhạc Beethoven hết cỡ

Mà vẫn nghe tiếng sủa trong tiếng nhạc ầm vang

 

Gâu, gâu, gâu… nó sủa không ngừng nghỉ

 

Rồi tôi thấy con chó ngồi trong dàn nhạc

Đầu ngửng cao đầy vẻ tự tin

Như thể Beethoven đã đưa tiếng chó sủa vào bản nhạc

 

Khi nhạc ngừng con chó kia vẫn sủa

Nó ngồi trong khu vực kèn oboa

Mắt nó dán vào ông nhạc trưởng

Nài xin ông giơ chiếc gậy chỉ huy

 

Các nhạc công với dáng vẻ trân trọng

Lặng im nghe con chó sủa solo

Đoạn nhạc kết không bao giờ chấm dứt

Beethoven thành thiên tài cách tân

 

                                       Lương Duyên Tâm dịch

 

Saturday, June 8, 2013

Bài thơ Im lặng của nhà thơ Mỹ Billy Colins, Lương Duyên Tâm dịch


Billy Collins

 

Im lặng

 

Có sự im lặng bất ngờ từ đám đông

khi vận động viên trên sân ngừng di chuyển

và có sự im lặng của hoa phong lan

 

Sự im lặng của chiếc lọ đang rơi

trước khi nó đập xuống sàn nhà

sự im lặng của cái roi không quất vào đứa trẻ

 

Sự im lặng của cái chén và của nước trong đó

sự im lặng của mặt trăng

và sự im lặng của ban ngày cách xa tiếng gầm rú của mặt trời

 

Sự im lặng khi anh ôm em vào lòng

sự im lặng của cái cửa sổ phía trên chúng ta

sự im lặng khi em đứng lên và quay đi

 

Và đó là sự im lặng của buổi sáng

mà anh đã phá vỡ bằng cây bút của mình

sự im lặng chất chồng hằng đêm

giống như tuyết rơi trong bóng tối ngôi nhà

sự im lặng khi anh viết một từ

và sự im lặng này còn tệ hơn.

 

                               Lương Duyên Tâm dịch

 

 

                   

 

Bài thơ Giới thiệu thơ của nhà thơ Mỹ Billy Colins, Lương Duyên Tâm dịch


Billy Collins

 

Giới thiệu thơ

 

Tôi yêu cầu họ cầm một bài thơ

giơ nó ra ánh sáng

như chiếu hình

hoặc áp tai vào cái tổ ong của nó.

 

Tôi bảo họ thả một con chuột vào thơ

rồi quan sát nó tìm đường ra khỏi đó

hoặc đi vào căn phòng thơ

sờ soạng các bức tường tìm công tắc đèn.

 

Tôi muốn họ trượt trên bề mặt của bài thơ như dùng ván trượt trên mặt nước

rồi vẫy chào tên tác giả trên bờ.

 

Nhưng tất cả những gì họ muốn làm

là trói thơ vào ghế bằng dây thừng

rồi tra tấn buộc nó phải thú tội.

 

Họ đánh nó bằng ống nước cao su

để tìm xem nó muốn nói gì.

 

                                          Lương Duyên Tâm dịch

Bài thơ Đồ án của nhà thơ Mỹ Billy Colins, Lương Duyên Tâm dịch


Billy Cillins

 

Đồ án

 

Tôi đổ một lớp muối lên mặt bàn

rồi dùng ngón tay vẽ một vòng tròn.

Đó là vòng đời

tôi nói một mình.

Đó là vòng tròn định mệnh

là vòng Bắc cực

là cung đường Kerry

là bông hồng trắng ở Tralec.

Tôi nói với các linh hồn của gia đình tôi,

với những người cha đã khuất,

với bà cô bị chết đuối,

với những người anh người chị chưa sinh,

với những đứa con chưa sinh.

Đó là mặt trời với những tia lấp lánh

và mặt trăng cay đắng.

Đó là vòng tròn tuyệt đối của hình học.

Tôi nói với vết nứt trên tường

với con chim bay ngang qua cửa sổ.

Đó là vòng tròn tôi vừa phát minh

quay quanh cuộc đời còn lại của tôi.

Tôi nói

khi chạm ngón tay mình vào lưỡi.

 

                                Lương Duyên Tâm dịch

 

 

 

Bài thơ Nhật Bản của nhà thơ Mỹ Billy Colins, Lương Duyên Tâm dịch


Nhật Bản 

 

Hôm nay anh giết thời gian

Bằng cách đọc những bài thơ haiku

Từng từ từng từ một.

 

Anh cảm thấy như thể đang ăn

Những quả nho hoàn hảo nhỏ bé giống nhau

Từng quả, từng quả một.

 

Anh đi dọc nhà và đọc thơ.

Để cho những con chữ rơi xuống

Qua bầu không khí từng căn phòng.

 

Anh đọc thơ bên sự im lặng to lớn của chiếc đàn dương cầm.

Anh đọc trước bức tranh vẽ biển

Anh đánh nhịp lên cái giá sách trống.

Anh lắng nghe mình đọc thơ

Rồi anh đọc mà không lắng nghe

Sau đó anh lắng nghe mà không đọc.

 

 

 

Và khi con chó ngước nhìn anh

Anh quỳ lên sàn nhà

Đọc thầm vào từng cái tai dài màu trắng của nó.

 

Đó là câu thơ nói về cái chuông chùa

Với con bướm đêm ngủ trên mặt chuông

Và bất cứ khi nào đọc câu thơ ấy

Anh lại cảm thấy áp lực đau khổ của con bướm

Đè lên bề mặt cái chuông.

 

Khi anh đọc thơ cạnh cửa sổ

Cái chuông là thế giới

Còn anh là con bướm đậu ở đó.

 

Khi anh đọc bên cái gương

Anh là cái chuông nặng

Còn con bướm là thế giới với đôi cánh mỏng như giấy.

 

Sau đó, khi anh đọc câu thơ ấy cho em nghe trong bóng tối

Em là cái chuông

Và anh rung chuông em,

 

Rồi con bướm bay đi

Nó chuyển động như chiếc bản lề trong không khí trên chiếc giường của chúng ta.

 

Lương Duyên Tâm dịch

 

Bài thơ Kinh cầu nguyện của nhà thơ Mỹ Billy Collins, Lương duyên Tâm dịch


Billy Collins   

 

Kinh cầu nguyện

 

 

Em là bánh mì và là con dao

Là cái cốc thủy tinh và là rượu vang

 

Jacques Crickillon

 

 

Em là bánh mì và là con dao

Là cái cốc thủy tinh và là rượu vang

Em là giọt sương trên lá cỏ buổi sáng

Em là quầng sáng mặt trời nóng bỏng.

Em là cái tạp dề trắng của người thợ làm bánh

Em  là con chim đang bay.

 

Tuy vậy, em không là cơn gió thổi trong vườn cây

Quả mận ở quầy hàng

Ngôi nhà làm bằng những quân bài

Và em chắc chắn không phải là bầu không khí thoảng mùi thông

Chẳng thể nào em lại là bầu không khí có mùi thông.

 

Có thể em là con cá dưới cầu

Có thể em là con chim bồ câu trên đầu ông tướng

Nhưng em không thể là cánh đồng hoa cúc xanh lúc hoàng hôn

 

Và thoáng liếc nhìn vào gương em thấy

Em không phải là đôi ủng nơi góc nhà

Cũng không phải chiếc thuyền đang ngủ trong nhà chứa thuyền.

Có thể em quan tâm đến

Cách nói về vô số những hình ảnh trên thế gian,

Rằng anh là tiếng mưa rơi trên mái nhà.

Là ngôi sao băng

Là tờ báo buổi chiều bay trên phố

Là giỏ hạt dẻ trên bàn ăn

Là tách cà phê của người đàn bà khiếm thị.

Nhưng em đừng lo, anh không phải là bánh mì và con dao

Em vẫn là bánh mì và con dao

Chưa nói đến chiếc cốc thủy tinh và rượu vang.

 

Lương Duyên Tâm dịch

Bài thơ Những bức tượng trong công viên của nhà thơ Mỹ Billy Collins, Lương Duyên Tâm dịch


Billy Collins

 

Những bức tượng trong công viên

 

Hôm nay anh nghĩ về em

khi dừng chân trước bức tượng kỵ sĩ

giữa công viên

Em là người có lần đã chỉ cho anh thấy mật mã của tư thế.

Em nói với anh, khi con ngựa chồm tới, hai chân giơ lên thì có nghĩa

                                                                là người kỵ sĩ chết trên chiến trường.                                                                                                                         

Nếu chỉ một chân ngựa giơ lên

thì người cưỡi nó sẽ tử nạn ở đâu đó vì vết thương.

Còn nếu bốn chân ngựa chạm đất

như trong trường hợp này

những chiếc móng đồng gắn chặt vào bệ đá

thì điều đó có nghĩa là người ngồi trên lưng ngựa

cái người đang nhìn chằm chằm qua rạp chiếu bóng đóng cửa bên kia đường

đã chết bởi một nguyên nhân khác không phải chiến tranh.

 

Dưới bóng của bức tượng

anh muốn biết về những người khác

những người chỉ đơn giản đi qua cuộc đời mình

không ngựa,không yên, không kiếm

những khách bộ hành, những người chẳng bao lâu nữa không thể đặt chân

                                                          này lên trước chân kia.

 

Anh hình dung bức tượng nằm nghiêng

trên giường đá lạnh

những kẻ tự sát đặt ngón chân lên gờ đá cẩm thạch

những bức tượng của nạn nhân các vụ tai nạn

những người bị giết che vết thương

những người chết đuối lặng lẽ đạp không khí

và anh

trên khối đá granit màu gạch hồng

gần bóng những cái cây trong công viên

tên anh và ngày tháng được ép trên tấm biển

anh quỳ gối, mắt ngước lên

cầu nguyện những đám mây bay qua

vĩnh viễn xin thêm một ngày nữa.

 

                                                    Lương Duyên Tâm dịch

Bài thơ Phát minh của nhà thơ Mỹ Billy Collins, Lương Duyên Tâm dịch


Billy Collins

 

Phát minh

 

Ngày hôm nay mặt trăng là chiếc bánh bích quy

với một nửa đã bị cắn

trôi trên bầu trời

 

rồi một tuần lễ nữa

theo lịch

nó chắc chắn sẽ giống như

một quả bóng bạc

 

chín hoặc mười ngày trước

nó làm tôi nhớ đến cái vuốt sáng nhọn sắc

 

Nhưng rốt cuộc

Vào ngày tận cùng của tháng

Nó sẽ hao mòn hết

chẳng còn gì

chẳng còn gì ngoài những ngôi sao trên bầu trời

 

Và tôi sẽ có vài đêm

 cho bản thân

một chút thời gian để cây bút bồn chồn của tôi thanh thản.

 

 

                                        Lương Duyên Tâm dịch

Billy Collins - "Nhà thơ được yêu thích nhất nước Mỹ"


Billy Collins – “Nhà thơ được yêu thích nhất nước Mỹ”

 

Billy Collins (sinh ngày 22-3-1941) là thi sĩ nổi tiếng ở Mỹ. Ông đã từng hai lần được bầu là Thi bá, hay còn gọi là Nhà thơ danh dự (Poet Laureate) của Hoa Kỳ, lần đầu vào năm 2001 và lần thứ hai vào năm 2003. Trong các năm từ 2004 đến 2006 ông được bầu là Thi sĩ của bang New York. Ông là giáo sư của nhiều trường đại học Mỹ trong đó có trường  Lehman College và trường  City University New York. Là Thi bá Hoa Kỳ, Billy Collins đã từng đọc bài thơ The Names của mình tại phiên  họp đặc biệt của Quốc hội Mỹ ngày 6-9-2002 nhằm tưởng nhớ các nạn nhân của vụ khủng bố 11-9. Tác giả Bruce Weber có lần viết trên tờ New York Times rằng Billy Collins là nhà thơ “được yêu thích nhất nước Mỹ”. Còn nhà thơ, nhà văn, đồng thời là nhà phê bình văn học nổi tiếng John Updike cũng không tiếc lời ca ngợi các tác phẩm thơ của Billy Collins. Ông này  cho rằng các bài thơ của Billy Collins “đáng yêu, trong trẻo, dịu dàng, luôn gây sửng sốt, và thường nghiêm túc hơn là cái vẻ của chúng.”  Trong thế giới thơ hiện đại chưa có nhà thơ nào thu hút độc giả bằng Billy Collins. Các buổi đọc thơ của ông thường xuyên hết vé. Hiện ông là nhà thơ có nhiều người đọc nhất ở Mỹ. Tập thơ ghi âm The Best Cigarette gồm 34 bài thơ của ông đã trở thành bestseller. Theo từ điển mở Wikipedia, khi chuyển từ nhà xuất bản University of Pittsburgh Press sang nhà xuất bản Random House, Billy Collins nhận được khoản tiền tạm ứng cho hợp đồng in ba tập sách lên đến 6 con số, và đó cũng là điều chưa từng thấy trong lịch sử thi ca. Tạp chí Poetry của Mỹ đã nhiều lần trao tặng giải thưởng thơ cho Billy Collins. Năm 2004 tạp chí này vinh danh ông là Nhà thơ của năm. Năm 2005 ông được tặng giải thưởng Mark Twain về Hài hước trong thơ.

Lương Duyên Tâm

Ảnh: Nhà thơ Billy Collins

Tuesday, May 7, 2013

Lời bình của Hoài Thanh về bài thơ Chia tay trong đêm mùa hạ của Trần Thị Nhơn


Một bài thơ dễ yêu
 
 
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh, tác giả cuốn sách nổi tiếng Thi nhân Việt Nam, đã từng viết bài khen ngợi bài thơ Chia tay trong đêm mùa hạ của Trần Thị Nhơn sau khi ông đọc bài thơ này trên báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam số ra ngày 7-3-1981.

 

 

 
Tình yêu cũng như mọi thứ ở đời có thật và có giả. Có những bài cũng gọi là thơ tình mà đọc đến ta thấy ngượng quá đi. Bởi đó không phải là tình thật, nó chỉ là một thứ trò chơi trống bỏi.

 

Trái lại có  khi tình thật mà sai đúng lại mơ hồ. Cùng trong một số báo, liền bên trên bài thơ Trần Thị Nhơn có những lời của một người mẹ trẻ dặn con:

 

Tình yêu sẽ sẽ chờ con sau tháng năm kia

Khi đón gặp xin con đừng hờ hững

Chỉ một chút yếu hèn toan tính

Con có thể lạc đi hạnh phúc suốt đời mình

 

Tôi muốn nói với người mẹ trẻ: Lời khuyên của chị rất có thể trở nên nguy hiểm.

 

Bởi tiếng gọi của tình yêu có khi đúng có khi sai, không phải bao giờ cũng đúng.

 

Bài thơ Trần Thị Nhơn đáng yêu trước hết là vì mối tình trong đó vừa đúng lại vừa có thật. Qua hai câu mở đầu ta sẽ thấy một sự kín đáo, dè dặt, đáng yêu:

 

Một tối mùa hè anh gõ cửa phòng em

Rồi đứng đợi dưới hàng cây sẫm tối.

 

Đến hai câu 3, 4 thì đúng là tình yêu rồi và cũng đúng là tình yêu đầu trong đời cô gái:

 

Em mở cửa lá rèm bay bối rối

Lần đầu tiên hò hẹn trong đời.

 

Kế đó họ đi phố với nhau. Trong khi đi không chú ý đến người, không chú ý đến xe, điều đó cũng tất nhiên thôi. Nhưng một chi tiết bất ngờ là họ cũng không nghe tiếng lá cây xào xạc là thứ tiếng sâu kín họ vẫn thường nghe:

 

Đi giữa phố đông em nghỡ phố không người

Không tiếng xe đi , không xạc xào tiếng lá.

 

Lần này họ không nghe là bởi tâm trí họ đang dồn vào một thứ tiếng sâu kín khác thiết tha hơn:

 

Chỉ có tiếng những ngón tay anh thủ thỉ

Với bàn tay em – chiếc lá non mềm.

 

Những chiếc lá kia không xào xạc là để đưa đến chiếc lá này non mềm: Một sáng tạo bất ngờ mà đúng chỗ.

 

Mỗi câu chuyện yêu đương thường diễn ra trong một khung cảnh. Khi Kim Kiều thề thốt với nhau, trên trời có vầng trăng rất sáng:

 

Vầng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng, một lời song song.

 

Đêm nay trái lại không có trăng. Nhưng khung cảnh riêng vẫn có:

 

Cây phượng đứng lá cành chao trước gió

Trong đêm tối thoáng một chùm hoa đỏ.

 

Bên chùm hoa ấy họ đã tiễn đưa nhau:

 

Và những lời từ biệt cháy trên môi.

 

Có thể hiểu là những lời từ biệt nóng bỏng yêu thương. Nhưng giá có hiểu: họ vừa hôn nhau vừa nói những lời từ biệt thì tình yêu ở đây vẫn cứ giữ nguyên tính nồng nàn và thanh khiết.

 

Cô gái bỗng có chút bàng hoàng. Cô láy lại hai lần hai chữ “ngày mai”:

 

Ngày mai, ngày mai anh đã đi rồi

Anh đến chốn biên thùy còn âm vang tiếng súng.

 

Làm sao có thể không lo lắng cho người sắp đi đến nơi có tiếng súng. Nhưng giữa một bên là hạnh phúc lứa đôi, một bên là nghĩa vụ, thái độ của họ vốn dứt khoát từ lâu. Nó là thái độ của hai anh chị trong “cuộc chia ly màu đỏ” ( Nguyễn Mỹ) và cũng là thái độ của hàng trăm nghìn thanh niên khác trên đất nước Việt Nam:

 

Khi tổ quốc cần họ biết sống xa nhau

( Nguễn Mỹ)

 

Thực tế khắc nghiệt trên mảnh đất nhiều thiên tai địch họa, họ chấp nhận nó. Nhưng cái việc đòi hỏi một nghị lực phi thường họ vẫn làm một cách tự nhiên và bình dị. Trong các cuộc tiễn đưa không hề có chút gì bi lụy, cũng không hề có những giọng nói lên gân, những dáng điệu iêng hùng. Sự bình dị ấy chính là biểu hiện của một sức mạnh vô biên.Vả chăng vấn đề cũng không hẳn là phải từ chối hạnh phúc lứa đôi. Vấn đề là phải biết đợi chờ và tin tưởng. Cùng với lòng tin vào chiến thắng, chúng ta có sức động viên rất lớn của của lòng thủy chung ở hậu phương trên cơ sở truyền thống gừng cay muối mặn từ xưa. Trong bài Đợi anh về của Ximônốp, anh không chết, anh trở về với em:

 

Chỉ vì không ai người

Biết như em chờ đợi

( Lời dịch của Tố Hữu)

 

Cũng trên tinh thần ấy nhưng có phần tự nhiên và bình dị, ở đây chùm hoa thoáng thấy hôm tiễn đưa đã trở thành:

 

Một chùm hoa đỏ chói sắc mong chờ

 

Không những nó sáng hơn, tươi hơn mà màu đỏ của nó từ chỗ là màu của hoa đã trở thành sắc chờ mong đỏ chói do sức biến hóa của lời thơ ( tôi thích nói sắc chờ mong hơn nói sắc mong chờ).

 

Kể đến đây bài thơ có thể dừng được rồi. Nhưng ta còn được đọc thêm một đoạn láy lại một số ý của đoạn trên:

 

Một tối mùa hè anh gõ cửa phòng em

Rồi đứng đợi dưới hàng cây sẫm tối.

 

đưa đến hai câu:

 

Em trở lại phòng em cánh cử khép hờ

Khung cửa sáng dưới lùm cây sẫm tối

 

Tình tứ và tinh nghịch biết bao cánh cửa khép hờ cùng với khung cửa sáng rọi mãi vào bóng tối hôm xưa!

 

Đi giữa phố đông em nghỡ phố không người

Không tiếng xe đi , không xạc xào tiếng lá

Cây phượng đứng lá cành chao trước gió

 

đưa đến:  

 

Cơn gió thoảng ngọn đèn đường chao vội

Phố không người hàng cây hát miên man

 

Hàng cây hôm xưa không xạc xào tiếng lá nay lại chuyển thành hàng cây hát miên man bề ngoài có vẻ trái ngược nhau nhưng thực ra đều nói chung một chuyện, đều nói một mối tình kín đáo, chốc chốc lại như muốn đùa với mình một tí. Phần tinh nghịch trong tình cảm là một nét đặc trưng của bài thơ này. Nói chung là tinh nghịch có mức độ không lấn át tình cảm nên bài thơ vẫn giữ được cái cốt cách của đáng yêu. Nhưng cũng do có phần tinh nghịch mà không cảm thấy hết những vui vui buồn, phấn đấu của người trong cuộc. So với bài thơ Nguyễn Mỹ thì sẽ rõ, cũng là cuộc chia ly màu đỏ mà cái nhìn của Nguyễn Mỹ nghiêm trang hơn – đúng là cái nhìn của người trong cuộc nên nhìn thấy sâu hơn và bài thơ của Nguyễn Mỹ nhờ thế đã vươn tới một tầm cao cần thiết và vẫn giữ  nguyên  vị trí ấy trong suốt mười mấy năm. Tuy vậy, hàng ngày đọc thơ trên các báo mà gặp được một bài như bài này của Trần Thị Nhơn vẫn phải xem là một điều may mắn lớn.

 

Hoài Thanh

 

(Bài đã đăng trên báo Văn nghệ số 24 ( 914) ra ngày 13-6-1981), và Hoài Thanh toàn tập).